Lý Bôn

Học thuật
Thân thiện
Lý Bôn

Lý Bôn xưng Nam Đế, lập nước Vạn Xuân.

Định nghĩa
  1. Danh từ riêng:
    • Tên một vị anh hùng dân tộc, người khởi xướng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Lương, lập nên nhà nước Vạn Xuân độc lập: Bôn tên của một nhân vật lịch sử công lao to lớn trong việc giành lại quyền tự chủ cho đất nước vào thế kỷ thứ 6.
dụ sử dụng
  • Danh từ riêng:
    • Bôn người tài văn song toàn.
    • Cuộc khởi nghĩa của Bôn đã đánh đuổi được thứ sử Tiêu .
    • Năm 544, Bôn lên ngôi, xưng Nam Đế, đặt tên nước Vạn Xuân.
Các cách sử dụng nâng cao
  • "Nhà Tiền ": triều đại do Bôn sáng lập, tồn tại từ năm 544 đến năm 602.

    • Bôn chính người gây dựng nên nhà Tiền .
  • "Vua Nam Đế": danh hiệu Bôn xưng khi lập quốc.

    • Sau khi thắng trận, Bôn xưng Nam Đế, khẳng định sự bình đẳng với phương Bắc.
Biến thể từ gần giống
  • : một tên gọi khác của Bôn, được sử dụng phổ biến trong một số tài liệu lịch sử.

    • Một số sách sử chép rằng chính Bôn.
  • Phần: một cách ghi chép khác (theo chữ Hán) cho tên của vị anh hùng này.

Từ đồng nghĩa
  • Nam Đế: tên gọi kết hợp giữa họ, tên đế hiệu của ông.

    • Nam Đế tức là Bôn, vị vua đầu tiên của nhà Tiền .
  • Người sáng lập nước Vạn Xuân: cụm từ mô tả vai trò lịch sử của ông.

Thành ngữ liên quan
  • "Nuôi chí đánh đuổi giặc": cụm từ thường dùng để mô tả chí hướng, quyết tâm của Bôn trước khi phát động khởi nghĩa.
    • Từ bỏ chức quan, Bôn lui về quê nhà nuôi chí đánh đuổi giặc.
Lý Bôn

Lý Bôn xưng Nam Đế, lập nước Vạn Xuân.

  1. ( -Mậu thìn 548)
  2. Đại thần, người gầy dựng nhà Tiền , xưng Nam đế, cũng gọi là hoặcPhần, quê huyện Long Hưng tỉnh Thái Bình
  3. Ông từng làm quan với nhà Lương khi nước ta bị chúng đô hộ. Nhà giàu có, tài gồm văn , ít lâu ông cáo quan lui về quê, nuôi chí đánh đuổi giặc. Nhân Thứ sử Giao Châu Tiêu tàn ác, ông dấy quân đánh đuổi Tiêu chạy về Quảng Châu, thu phục Thăng Long. Rồi tiến đánh Lâm ấp, chiêu an dân chúng, tự xưng Nam đế, hiệu đặt nước Vạn Xuân, hiệu năm Thiên Đức trong năm Giáp 544, Tinh Thiêu, Triệu Túc giúp việc chính trị, Lí Đại Quyền, Lí Phổ Đĩnh, Triệu Quang Phục coi việc binh bị
  4. Nhà Lương lại sai tướng Dương Phiêu Trần Tiên đem quân xâm lược. Ông chống cự nhiều trận bị thua, rút quân về đónghồ Điền Triệt (huyện Lập Thạch). Quân Lương tiến công ông thất thế chạy vào động Khuất Liêu (thuộc tỉnh Hưng Hóa), rồi bịnh mất trong năm Mậu thìn 548. Tướng của ông Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến